slide image

CHĂM SÓC CÂY XOÀI

Xoài là cây ăn trái quan trọng nhất được trồng nhiều nơi trên thế giới. Ở miền Nam đã có một số giống xoài ngon nổi tiếng giúp đem lại hiệu quả kinh tế cao (một Ha xoài cho lợi nhuận 3 đến 6 lần Ha ruộng).

I. Đặc tính:

1. Ở nhiệt độ 24-320C cây xoài sinh trưởng tốt, nhưng vẫn chịu đựng được nhiệt độ 00C và cao hơn 400C trong thờI gian vài tuần.

2. Cao độ thích hợp dướI 800m.

3. Lượng mưa 1.500 - 2.000mm hay cao hơn nhưng có thời kỳ khô hạn 2 - 4 tháng sẽ giúp cho việc ra hoa kết trái tốt. Khô hạn đốI với một số cây ăn trái khác là bất lợi nhưng đối với xoài thì thuận lợi, đặc biệt trong thờI kỳ ra hoa.

4. Xoài được trồng nhiều vùng đất, trừ những vùng đất bị nhiễm phèn (pH thấp), nhiễm mặn quá nặng hay ngập úng kéo dài.

II. Giống:

Có hàng trăm giống xoài được trồng ở Việt Nam. Tuy nhiên phải chọn trồng các giống có năng suất cao, chất lượng ngon mờI đem lại hiệu quả kinh tế cao và lâu dài. Các giống nên trồng:

1. Nhóm xoài ăn chín : Cát Hòa Lộc, Xoài xanh Đài Loan, Cát Chu, Cát Núm,…. Là các giống có năng suất và chất lượng, được thị trường trong nước và nước ngoài ưa chuộng.

2. Nhóm xoài ăn sống : Xoài xanh Đài Loan, Khiu-xa-vơi, Fhaland (Thái) có nhiều triển vọng. Riêng xoài xanh Đài Loan có đặc tính sinh trưởng mạnh, kháng nhiều loại sâu bệnh, dễ ra hoa đậu trái, mã trái đẹp, trọng lượng 0,6- 2 ký/ trái, cơm nhiều hạt bé, ít xơ, vị ngọt, thơm và giòn. Khi chín ăn ngọt, dẽo và thơm. rất dễ ra hoa và đậu trái, năng suất rất cao.

III. Tiêu chuẩn cây giống:

Phải đảm bảo cây được ghép đúng giống mong muốn và đạt tiêu chuẩn:

1. Đường kính gốc ³ 1,2cm.

2. Vị trí ghép cap 15 - 25cm.

3. Chiều cao cành ghép đạt 25 - 35cm (có 2 hay 3 cơi lá).

4. Cây được nuôi trong túi nilon đen bằng vật liệu tơi xốp nhẹ nhàng. Kích thước túi ³ 10 x 30cm.

5. Bộ rễ phát triển mạnh, lá già, không bị sâu bệnh.

IV. Kỹ thuật trồng:

1. Thời vụ trồng : Có thể trồng quanh năm, nếu trồng trên diện tích rộng nên trồng vào đầu mùa mưa để nhẹ chi phí chăm sóc.

2. Cự ly : Trồng dầy cây cách cây 4m, hàng cách hàng 5m.

3. Đất trồng :

a. Vùng đất thấp: Cần có đê bao an toàn, cống bọng cấp thoát nước chủ động.

- Liếp rộng 5 -7m, mương 1,5 - 3m.

- Mô trồng rộng 0,8 - 1,2m, cao 0,3 - 0,5m.

b. Vùng đất cao:

- Thế đất bằng phẳng : Làm mô rộng 0,8 - 1m, cao 0,3 - 0,4m.

- Đất nghiêng 2 - 5% làm mô rộng 0,6 - 0,8m, cao 0,2 - 0,4m.

- Đất nghiêng > 5% nên trồng ngang bằng mặt đất hay thấp hơn 0,1 - 0,2m.

4. Làm mô, hốc trồng:

a. Ở vị trí muốn trồng đào hốc 0,6 x 0,6 x 0,6m.

b. Bón cho mỗi hốc:

- Vôi bột 0,5 - 1ký.

- Phân lân 0,3 - 0,5 ký

- Phân hữu cơ (rơm rạ, rác …) 10 ký.

c. Cách bón: Bón vôi nước 1 tuần lễ sau đó bón số còn lại và trộn đều vào đất đã đào lên.

5. Bón phân: Phải bón đúng, bón đủ, đặc biệt là ngay sau vụ vườn cây được mùa.

a. Phân hữu cơ:

Giai đoạn

Số lượng (ký)

Thời điểm

Gần cuối năm 1

10

Cuối mùa mưa

Gần cuối năm 1

15

Cuối mùa mưa

Năm thứ 3 trở về sau

30-40

Vừa thu hoạch xong

b. Phân hóa học:

Có thể sử dụng nhiều loại phân phối hợp để bón cho cây phù hợp với các điều kiện tự nhiên và sinh trưởng- phát triển của cây. Sau đây là một vài công thức có thể áp dụng:

- Bón cho cây con:

Urê 120g + Phân lân 230g + KCL (Clorua Kali) 100g + NPK 16-16-8 250g.

Phối hợp với nhau bón cho 1 cây/năm. Chia ra làm 5 lần bón. Lần bón thứ nhất 100g. Các lần sau mỗi lần tăng thêm 20g phân.

Năm thứ hai số lượng phân tăng gấp đôi năm thứ nhất.

- Trước khi cho ra hoa:

Urê 0,2 ký + Phân lân 0,4 ký + NPK 16-16-8 0,4 ký.

Bón cho 1 mét đường kính cây.

- Khi cây mang trái:

Urê 0,2 ký + NPK16-16-8 0,5 ký + KCCL (Clorua Kali) 0,3 ký.

Chia làm 2 lần bón. MỗI lần 50%. Lần thứ nhất vào thời kỳ trái rụng sinh lý (trái khoảng ngón chân cái), lần thứ hai bón trước thu hoạch 1 tháng.

- Thu hoạch xong:

Urê 0,2 ký + NPK 16-16-8 0,6 ký.

Bón cho 1m đường kính (kết hợp với bón phân hữu cơ).

VI. Bệnh và sâu - rầy hại xoài:

1. Bệnh hại:

a. Bệnh thán thư: Bệnh do nấm Collectotichum gloeosporioides gây ra. Đây là bệnh gây hại rất trầm trọng cho các vườn xoài. Bệnh gây hại trên lá non, đọt non trên cuống bông và trên trái. Vào mùa mưa, ẩm độ cao, mức độ thiệt hại trên vườn xoài rất lớn, nhất là trên các vườn ươm cây con.

+ Phòng : Tỉa cành tạo tán cho thông thoáng và tiêu hủy các cành lá bị nhiễm bệnh. Cây ra hoa lúc thờI tiết ẩm thấp, nhiều sương mù phải phun thuốc phòng bệnh cho hoa bằng các loại thuốc hóa học.

+ Trị: Có nhiều loại thuốc để trị bệnh như : Viben- C, Topsin- M 70WP, Carbenzim 50 WP … liều lượng và nồng độ theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất.

 b. Bệnh đốm đen (Xanthomonas campes): Bệnh xảy ra trên lá chồi non và trái. Trên lá chúng gây những vết loét, tạo thành vùng lõm xuống so với bề mặt lá. Trên chồi non và trái có những vết nứt dọc có màu nâu đen, đôi khi có nhựa chảy ra từ những vết nứt.

+ Phòng: Tiêu hủy lá, chồi và trái bị bệnh phòng lây lan. Hạn chế gây thương tích cho cây nhất là vào mùa mưa nhằm ngăn chặn sự xâm nhiễm của vi khuẩn.

+ Trị: Phun các thuốc gốc đồng như Kasuran, Kocide, Bordeaux 1%, Coc 85 … sau những trận mưa to.

c. Bệnh chai mô lá non do nấm Elsinoe mangiferae gây ra. Bệnh rất nguy hiểm ở vườn ươm làm lá méo mó, cong queo. Trên trái làm chai vỏ trái.

+ Phòng: Dùng các loại thuốc gốc đồng để phòng trị.

d. Bệnh nứt trái: Thường do thừa nước hay thừa phân đạm (do rối loạn sinh lý). Phòng bệnh bằng cách cân đối các yếu tố dư thừa.

2. Sâu rầy:

a. Rầy bông xoài: Là côn trùng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các vườn xoài, cả thành trùng và ấu trùng đều có thể gây hại hoa, đọt non và lá non. Đồng thời tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển làm đen bông, trái và lá. Dùng các loại thuốc như Bassa, Cypermethrin, Admira, Basudin 50EC … khi mật số cao.

b. Sâu đục cành non: Loài sâu nầy có họ vòi voi, thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) gây hại nặng cho các vườn xoài. Có vườn số cành bị hư hại lên đến 100%.

+ Phòng trừ: Phun thuốc trừ sâu rầy khi cây vừa nhú đọt non cách nhau 7- 10 ngày. Khi cây đã bị tấn công việc trị kém hiệu quả dù sử dụng các loạI thuốc có tính nội hấp.

c. Rệp sáp: Có rất nhiều loài gây hại ở những bộ phận khác nhau trên cây và tạo điều kiện nấm bồ hóng phát triển.

+ Phòng trừ: Mật số rầy tăng cao, dùng các loại thuốc như Lannate, Supracide, Oncol, Bassa, Fenbis…

d. Ruồi vàng: Ruồi cái đẻ trứng qua vỏ xoài sau 24- 30 giờ trứng nở vòi màu trắng. + Phòng: Xử lý thuốc hóa học và bao trái sau thời kỳ trái rụng sinh lý.

Nông Trang Island